Tình trạng viêm các mạch máu nhỏ ở da gây ra ban xuất huyết gồ cao, có thể kèm theo mụn nước hoặc loét hoại tử, thường là phản ứng sau nhiễm trùng hoặc do thuốc.
Nhóm bệnh lý viêm mạch máu vừa và lớn gây tổn thương đa cơ quan, biểu hiện trên da thường là các nút dưới da, loét sâu hoặc mạng lưới xanh tím (livedo reticularis).
Một dạng viêm mạch máu hiếm gặp với các sẩn hoặc nốt màu đỏ nâu, tím, phân bố đối xứng ở các mặt duỗi của khớp và tồn tại dai dẳng trong nhiều năm.
Rối loạn viêm hệ thống mạn tính đặc trưng bởi bộ ba triệu chứng: loét miệng tái phát, loét bộ phận sinh dục và viêm mắt, đôi khi kèm theo các tổn thương dạng mụn mủ trên da.
Hội chứng viêm mạch máu cấp tính ở trẻ em, biểu hiện bằng sốt kéo dài, đỏ mắt, môi nứt nẻ, lưỡi dâu tây và tình trạng bong da đầu ngón tay, ngón chân.
Nhóm bệnh lành tính gây ra các đốm xuất huyết li ti màu đỏ hoặc nâu (như bụi ớt rắc) do hồng cầu thoát mạch mạn tính, thường xuất hiện ở vùng cẳng chân.
Tình trạng các protein trong máu kết tủa khi gặp lạnh, gây tắc nghẽn mạch máu dẫn đến đau nhức, ban xuất huyết, nổi mạng lưới xanh tím hoặc loét hoại tử đầu chi.
Phản ứng co thắt mạch máu đầu ngón tay, ngón chân khi gặp lạnh hoặc stress, khiến da đổi màu từ trắng bệch sang xanh tím và cuối cùng là đỏ rực khi tưới máu trở lại.
Bệnh lý tắc mạch hiếm gặp tạo ra các sẩn nhỏ màu đỏ với trung tâm teo lõm màu trắng sứ, có thể ảnh hưởng đến da đơn thuần hoặc gây tổn thương nghiêm trọng ở nội tạng.
Các bất thường bẩm sinh trong cấu trúc mạch máu hoặc mạch bạch huyết, biểu hiện dưới dạng các bớt rượu vang, u mạch phẳng hoặc các khối sưng nề không tự thoái lui.
Các biến đổi thứ phát như phù nề, sạm da, xơ cứng hoặc loét chân phát sinh từ tình trạng suy yếu hệ thống tưới máu động mạch, dẫn lưu tĩnh mạch hoặc bạch huyết.
Cơ chế sinh học phức tạp gồm các giai đoạn viêm, tăng sinh và tu sửa nhằm phục hồi cấu trúc da sau tổn thương, chịu ảnh hưởng lớn từ độ ẩm, dinh dưỡng và tuần hoàn.